Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nổi mề đay

Theo thời gian, người ta phân mề đay thành hai loại

Mề đay cấp tính: thường xuất hiện liền sau khi tiếp xúc với tác nhân dị ứng và kéo dài từ vài phút tới không quá 6 tháng.

Mề đay mạn tính hoặc tái phát: khi triệu chứng mề đay kéo dài hơn 6 tuần. Nguyên nhân của các trường hợp mạn rất khó chẩn đoán, ngay cả khi khai thác bệnh sử chi tiết và làm các test cận lâm sàng. Nếu không tìm được nguyên nhân, người ta xếp những trường hợp này vào  dạng ‘mề đay mạn tính vô căn’. Khoảng một nửa các ca mạn tính liên quan tới hệ thống tự miễn của cơ thể. Ngoài ra, mề đay mạn tính có thể liên quan tới các bệnh tuyến giáp, rối loạn hormones, hoặc ung thư dù  tỉ lệ cực nhỏ.

noi-me-day-nguyen-nhan-trieu-trung-va-cach-dieu-tri-benh-me-day-2

Mề đay có thể gặp ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể. Sang thương là mảng phù hồng hoặc đỏ nổi cao trên bề mặt da. Đó có thể là phản ứng của cơ thể trước các tác nhân dị ứng, khiến hệ miễn dịch giải phóng các chất chống viêm, bao gồm histamine từ các tế bào mast, hậu quả là gây ứ dịch ở các mạch máu ngoại vi. Sang thương có thể chỉ nhỏ bằng đầu tăm hoặc rộng vài inch

Phù mạch là một tình trạng liên quan, do ứ dịch ở các mạch máu sâu hơn. Hầu hết các dấu hiệu ngoài da của mề đay biến mất nhanh chóng không để lại dấu vết. Những cá biệt mề đay gây đau, kéo dài hơn 24 tiếng được gọi là viêm mao mạch mề đay ( urticarial vasculitis ). Một dạng mề đay hiếm gặp là mề đay vẽ nổi ( dermatographic urticaria ) khi các đường vẽ, ấn lên da nổi mề đay theo đúng đường vẽ. Bệnh mạn tính nhưng vô hại.

Xem thêm:

Mướp – Cây thuốc quý chữa bệnh mà hầu hết mọi người không biết

Cách điều trị bệnh nổi mề đay

Phương pháp chủ yếu nhằm kiểm soát mề đay cấp và mãn tính là nâng cao kiến thức cho bệnh nhân về bệnh mề đay, tránh xa các tác nhân kích thích và sử dụng thuốc kháng histamines.

Mề đay mạn tính khó điều trị dứt điểm hơn mề đay cấp tính và có thể dẫn tới nhiều khiếm khuyết đáng kể. Không như dạng cấp tính , không tìm thấy được tác nhân kích thích rõ ràng nào trong  50-80% bệnh mề đay mạn. May mắn thay, 50% các ca này giảm triệu chứng trong vòng 1 năm. Phương pháp chủ yếu là điều trị triệu chứng.

  • Thuốc kháng histamine

Kháng histamine là thuốc đầu tay nhằm điều trị mề đay. Nhằm tối đa lợi ích, cần sử dụng thuốc hằng ngày chứ không phải chỉ khi có cơn kịch phát.

  • Steriods

Glucocorticoids đường uống rất có hiệu quả trong việc kiểm soát triệu chứng mề đay mạn tính. Tuy vậy, một danh sách dài các tác dụng phụ đi kèm khiến các chỉ  định về steroids luôn được cân nhắc. Chỉ nên giới hạn sử dụng glucocorticoids trong vài tuần đầu điều trị. Thêm vào đó, đã có nghiên cứu cho thấy việc dùng kết hợp glucocorticoids kèm thuốc kháng histamines không đẩy nhanh thời gian biến mất các triệu chứng mề đay so với việc sử dụng đơn lẻ thuốc kháng histamines.

  • Thuốc đối vận thụ thể Leukotriene

Leukotriene được giải phóng từ tế bào mast cùng với histamine. Montelukast và zafirlukast sẽ khoáccác thụ thể leukotriene, do vậy được dùng điều trị các bệnh nhân mề đay CU.

Xem thêm:

Kiến ba khoang đốt – điều trị và phòng ngừa như thế nào?

Bằng Đông y

Trong đông y, mề đay được biết đến với tên ‘Phong ngứa’, ‘Tầm ma chẩn’ hay ‘Phong chẩn khối’, thường gặp trong mùa đông xuân.

Nguyên nhân là do cơ thể suy yếu, âm dương trong cơ thể mất cân bằng dẫn tới tình trạng ‘âm hư huyết táo’. Nhân lực này các thể phong xâm nhập cơ thể, tích tụ ở lớp bì da mà sinh bệnh.

Nhằm chữa trị bệnh phong ngứa, cần xác định chính xác loại hình rồi mới có thể kê toa thích hợp.

  • Dạng phong nhiệt

Bài 1: Kim ngân hoa 12g, vỏ núc nác 12g, lá đơn đỏ 6g. Sắc với 800ml nước, đun lấy 400ml, chia thành 2 phần, uống vào sáng sớm và chiều tối, lúc đói bụng.

Bài 2: Kim ngân hoa 12g, phù bình  6g. Sắc và uống như bài 1.

Bài 3: Phù bình 16g, vỏ núc nác 12g, thuyền y 10g. Sắc và uống như bài 1.

  • Dạng phong hàn

Bài 1: Quả ké đầu ngựa (sao vàng, nghiền thành bột mịn). Ngày uống 3 lần mỗi lần 1-2g, chiêu thuốc bằng nước sôi hoặc hòa vào rượu trắng uống.

Bài 2: Hương nhu 12g, phù bình 6g. Sắc với 800ml nước, đun lấy 400ml, chia thành 2 phần, uống vào sáng sớm và chiều tối, lúc đói bụng.

Bài 3: Quế chi 6g; kinh giới, tía tô, mỗi vị 10g; hành 15g (để cả củ); gừng tươi 8g. Sắc với 800ml nước, đun còn 400ml, chia ra 2 lần uống sáng, chiều, lúc đói bụng.

Xem thêm:

Bài thuốc chữa bệnh từ cà chua

  • Dạng huyết hư phong táo (thể mạn tính)

 

Bài 1: Đương quy, bạch thược mỗi vị 10g, kinh giới 6g. Sắc nước uống thay trà trong ngày.

Bài 2: Thục địa 12g, hạ liên thảo (cỏ nhọ nồi), nhẫn đông đằng (dây kim ngân) mỗi vị 10g. Sắc nước uống thay trà trong ngày.

Bài 3: (Dưỡng huyết nhuận táo thang): Sinh địa hoàng 15g, bạch thược, đan sâm, huyền sâm, hà thủ ô chế, đan bì mỗi vị 10g; đương quy, xuyên khung, thuyền y, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc với 1.000ml nước, đun còn 450ml, chia ra 3 lần uống sáng, trưa, chiều, lúc đói bụng. Dùng trong thể bệnh nặng, khí huyết suy nhược, bệnh tái phát nhiều lần.